Sunday, January 31, 2010

Một số câu hỏi khó chịu

Bài viết này tôi viết cách đây hơn 2 năm (9/5/2007), giờ gom về đây cho tiện.
Những người xem bói thường bị hỏi những câu hỏi khó. Một số là người ta thắc mắc thật tình nhưng cũng có những câu khiêu khích hay bắt bí. Dưới đây tôi xin kể một số câu hỏi mà tôi từng bị hỏi. Một số thì tôi trả lời được, số khác thì không, viết ra đây mong được chỉ giáo và để quí vị đọc chơi.
1. Những người sinh đôi thường là cùng giờ sinh, vậy số mệnh họ có giống nhau không?
Thực tế cho thấy nhiều cặp sinh đôi cùng giờ nhưng cuộc đời không mấy gì giống nhau, nếu không muốn nói là chỉ giống nhau hình dáng và chung cha mẹ (như 2 người em họ của tôi mà tôi chắc chắn là sinh cùng giờ).
Cái này thì tôi từng giải thích trong bài “Bàn về số mệnh và các phương pháp đoán số”. Chúng ta phải chấp nhận cuộc đời con người có những điểm đến hạn mà tại đây tùy vào cá nhân mà số mệnh có thể bước sang những ngã rẻ rất khác nhau. Tử vi chỉ định tính mà cuộc đời thì nhiều khi cần định lượng. Như 15,5 điểm thì rớt, 16 điểm thì đỗ nhưng trên mặt định tính thì thật là chẳng khác nhau bao nhiêu.
Tôi từng được đọc một bài báo của một thầy tử vi nổi tiếng nói về 2 sĩ quan có cùng một lá số (sinh cùng ngày cùng tháng cùng năm và cùng giờ) nhưng không cùng cha mẹ. Theo ghi nhận của ông này thì 2 người này có biến cố cuộc đời khá giống nhau nhưng ở các cấp độ khác nhau như năm thăng cấp thì giống nhau như cấp bậc thì khác nhau. 2 người mất cùng năm nhưng trước sau nhau 6 tháng và cái chết cũng khác nhau chút ít.
Như vậy, thì cũng trấn an phần nào cho dân xem số dựa trên ngày tháng năm sinh!

2. Nhiều trường hợp người mẹ được tiên lượng là sinh khó và bác sỉ chỉ định là sinh mổ. Vì đằng nào thì cũng mổ nên thường người ta cho phép chọn ngày giờ. Nhiều người nhờ thầy xem dùm trong khoảng thời gian đó (cũng khoảng năm ba ngày), ngày giờ nào là đẹp nhất … rồi mổ. Thế thì tử vi trong trường họp này có giá trị gì không?
Tôi có được yêu cầu xem và chọn ngày sinh như vậy một lần và tôi đã từ chối. Sau đó người mẹ này nhờ một người khác xem và định ra giờ mổ. Tuy nhiên, đúng giờ đúng ngày thì phòng mổ bị kẹt do có ca cấp cứu rất khẩn, thế là giờ mổ (cũng là giờ sinh của đứa bé) bị dời đi mấy giờ. Nhờ vậy có thể nói rằng thiên định vẫn cứ là thiên định. Dù vậy, tôi nghĩ vẫn có người thành công trong việc sinh con theo ngày giờ đã định và như vậy, lá số này có chính xác không?
Một chi tiết nhỏ là sau đó, vì tò mò, tôi lập cả 2 lá số, một theo giờ đã định trước và một theo giờ đã mổ thì không thấy lá số nào khả dĩ là đẹp cả?!

3. Có người hỏi rằng khi máy bay rơi thì hàng trăm người chết cùng lúc, chẳng lẽ ngần ấy người có cùng số chết năm đó, tháng đó, giờ đó sao?
Tôi đã từng trả lời người chất vấn rằng (cũng là theo trong sách thôi), cũng có khi máy bay rơi, hàng trăm người chết, nhưng vài người sống sót hy hữu. Điều này chứng tỏ là có số.
Dầu vậy, trong thâm tâm tôi, nếu có ai đó mà sưu tầm hết lá số của những người bị nạn trên máy bay, tôi nghĩ cũng khó mà biện luận cho thông cái lý ngần ấy lá số chết vào năm, tháng đó.
Phía tướng số thì có ghi chép rằng có thầy tướng nọ, đến vùng kia thấy sắc mặt người nào cũng u ám. Sau đó ít lâu, quả nhiên vùng đó bị giặc dã tàn phá. Hy vọng là cũng có hiện tượng tương tự cho trường hợp rơi máy bay.

4. Trong phép bói tung đồng tiền, nhiều người được quẻ không như ý bèn gieo tiếp và cứ gieo hoài cho tới khi được quẻ tốt. Như vậy thì sao?
Câu này thì sách có trả lời nhưng mãi sau này tôi mới được đọc. Đó là cuốn “Tăng san bốc dịch” của Dã Hạc Lão Nhân. Ông này cho rằng nếu bói một lần đã rõ nghĩa thì không nên bói lại, còn như chưa rõ thì thành tâm làm lại cũng được. Khi gieo quẻ thì thành tâm, trong lòng trống rỗng thì mới nghiệm, chứ cứ mong quẻ theo ý mình thì quẻ sẽ không ứng nghiệm.
Dù vậy, nhiều người cũng không chịu lý luận này.

5. Ta thấy một số sách bói nói, vd: người mạng kim thì hợp với màu vàng vì vàng thuộc thổ. Có anh bạn tôi, quyết lòng làm theo sách, đã chọn mua chiếc xe màu vàng. Nhưng mua rồi, đem về nhà ngắm thì thấy xe không hoàn toàn màu vàng (dĩ nhiên rồi, vì toàn vàng thì … xấu quá) mà có chỗ xanh chỗ đỏ lung tung. Anh lại nghe nói “thiểu thắng đa” và càng lo lắng hơn. Tôi bèn giải thích cho anh là “thiểu thắng đa” là như chữ trên tờ giấy, phần chữ chỉ chiếm vài phần trăm diện tích tờ giấy nhưng người ta nhìn, đọc là ở phần này, nên nó là chủ đạo; tương tự, trong một viên thuốc, phần lớn là chất độn, chỉ có chút xíu dược chất nhưng lại là phần tạo ra công dụng chính của thuốc …. Trong trường họp chiếc xe thì lại khác, đập ngay vào mắt người ta là màu sơn chính của thân xe, ai mà chú ý các họa tiết khác. Ngay trên giấy tờ xe cũng ghi màu vàng đó thôi, nếu anh có bị police đuổi bắt, người ta cũng sẽ nói trên bộ đàm “Một chiếc xe màu vàng đang chạy về ….”. Anh bạn tôi nhờ vậy mới yên tâm.
Tuy nhiên, trong thâm tâm tôi, tôi nghĩ rằng lấy hạp năm sinh âm rồi suy ra màu này hợp màu kia không xem chừng vô lý quá, chắc không có tác dụng gì. Đồng đô la nào cũng màu xanh, nhưng tôi không nghĩ những người mạng thổ thì kỵ chúng?!

6. Nhiều người đặt vấn đề, giả sử anh X năm nay vận xấu nhưng anh quyết tâm làm cái gì cũng coi ngày, làm toàn vào những giờ hoàng đạo của những ngày “Đại cát, đại lợi … tiểu tác tiểu phát, đại tác đại phát” thì sao, anh ta có thành công không?
Theo tôi thì xem ngày tốt xấu cũng như xem thời tiết, nó cũng chỉ là một yếu tố phụ trợ cho công việc thêm thuận tiện thôi. Chủ yếu vẫn là khí vận của người đó. Ví như anh đi cắm trại với gia đình, nếu trời đẹp thì cuộc đi chơi càng vui, nếu trời xấu mất vui đôi chút. Tuy nhiên, nếu anh phải đi với bà vợ lắm mồm, một bầy con ngổ nghịch thì dù trời có đẹp cũng chẳng vui nỗi. Ngược lại, nếu anh đi với người yêu mới, xinh đẹp dịu dàng, có khi trời càng giống tố càng … hay.

7. Lão tử khi tiễn Khổng tử ra về có nói “Những gì ông nghiên cứu thuộc về người xưa, người xưa thì chết rồi, thời đại của người xưa cũng qua rồi, vì vậy những điều này không nên xem là bất di bất dịch”. Các khoa xem bói cũng có vấn đề này và liệu ngày nay cần điều chỉnh ra sao? Ôm nguyên khuôn của người xưa thì chắc là không ổn rồi.
Đành rằng phải đồng ý ngay là phải có điều chỉnh, nhưng điều chỉnh ra sao thì khó quá. Một ví dụ: có những bệnh như ruột thừa chẳng hạn, ngày xưa bị là chết, nhưng ngày nay thì chữa không khó khăn gì. Nếu cho rằng lá số có phản ánh các quá trình vượng, suy sinh học của cơ thể thì cái hạn lớn này trên lá số ra sao, chắc là sai chăng?
Vấn đề gay go nhất là phía nữ giới. Mọi lý luận của các khoa bói đều đặt trên nền tảng: đường chồng con có giá trị to lớn trong cuộc đời người đàn bà. Thêm nữa, vấn đề tiết hạnh rất được xem trọng. Những điều này ngày nay giảm giá trị đi rất nhiều. Trong tướng thuật thì mũi của đàn ông là cung quan, của đàn bà là cung phu. Ngày nay có cần sửa chữa điều này không?
Trong tử vi thì có những sao chỉ sự thất tiết của đàn bà như kình – kỵ, cự - kỵ, đào-riêu mà ngoài ý nghĩa tiết hạnh ra còn mang nhiều ý nghĩa rất xấu. Lưu ý rằng ngày xưa để đàn ông ngoài chồng, cha ra nắm tay đã là “thất tiết”. Trong khi ngày nay, bạn khác giới cũng có thể hôn nhau.
Như vậy có 3 cách hiểu trong bối cảnh ngày nay:
a. Những bộ sao này không còn ý nghĩa dữ dội nữa.
b. Nếu có những sao này, người phụ nữ sẽ có đời sống tình ái rất dữ dội để gánh tai tiếng và rắc rối tương đương như ngày xưa. Hoặc có thể hiểu là không bị ý nghĩa xấu này sẽ bị ý xấu khác.
c. Nhìn chung, lá số không chỉ sự vật mà chỉ cảm giác, cảm nhận của đương số đối với sự vật. Như vậy thì không phụ thuộc văn hóa và đạo đức xã hội nữa nhưng cách luận đoán diễn thành sự việc thì phải thay đổi. Điều này tùy vào vốn sống và kiến thức xã hội của ông thầy.
Thật sự tôi chịu không dám chắc hiểu thế nào là đúng. Ý cuối cùng có vẻ khả chấp hơn cả nhưng cũng có cái kẹt. Ví dụ 2 câu phú rất nổi tiếng:
Sao Thai mà ngộ Đào hoa
Tiền dâm, hậu thú mới ra vợ chồng.
Trong bối cảnh mà chuyện con đi theo ôm váy cưới cho mẹ trong lễ thành hôn còn là chuyện thường thì … bộ sao này có còn ý nghĩa gì? Có thể là nó sẽ chỉ một hiện tượng gì đó khác trong chuyện hôn nhân. Cái cảm giác, cảm nhận của những người “tiền dâm, hậu thú” ngày xưa ra sao, diễn dịch trong bối cảnh ngày nay thì như thế nào?

8. Gieo quẻ để đoán vật.
Cách đây hơn 10 năm, trong khi đi cắm trại với một nhóm bạn, tôi đem theo quyển sách chỉ cách xem Mai hoa dịch. Một anh bạn tò mò đọc được lỏm bỏm đoạn “Đoán vật” bèn đánh cá tôi đoán vật mà anh ta bí mật cầm trong tay trong khi tôi phải đi ra ngoài. Tôi nhớ tới chuyện Thiệu Khang Tiết bảo con mình đoán vật khi có hàng xóm sang gõ cửa và nghĩ rằng việc đoán vật là 1 bài tập hay nên nhận cá. Trong lúc tôi ra khỏi lều, bạn tôi bèn chọn một món đồ và cầm trong tay. Tôi trở vào và phải xủ quẻ để đoán vật ấy.
Tôi ghi lại chính xác những gì tôi đã nghĩ lúc đó, mặt dù có thể đối với nhiều người đọc bài này thì thật là mông muội và bậy bạ.
Tôi bấm lục nhâm đại độn và được Đại cát lâm Tý tức trạch thủy Khổn. Vừa đoán vừa nói ra thành lời cho tất cả mọi người nghe. Vì trạch là kim nên có lẽ vật sẽ tròn và có màu trắng và bằng kim loại. Không tính Thủy vì thủy thì không nằm trong lòng bàn tay được mà có lẽ vật này liên quan đến nước. Tôi đoán chắc là nắp chai bia (bằng kim loại) màu trắng và đã cong vênh không còn dùng được nữa.
Khi bạn tôi mở nắm tay ra thì đó là nắp chai nước suối đã bị tét và có màu trắng, bằng nhựa. Dù theo quan điểm lý số, tôi thất bại thảm hại trong biện luận ngũ hành nhưng các bạn tôi thì đâu có rành nên cũng tròn mắt thán phục và cho tôi được “thủ hòa”. Tuy nhiên, họ bắt tôi làm lại lần nữa. Họ thấy tôi biện luận dựa nhiều vào cái lý “nằm trong bàn tay” nên lần này họ lấy cái nón úp lên vật mà tôi phải đoán.
Lần này tôi không dùng Lục nhâm nữa mà tính một quẻ tiên thiên, được thiên sơn Độn, biến ra phong sơn Tiệm. Tôi lại cho đó là vật tròn, màu trắng. Sở dỉ tôi bỏ qua hành thổ vì cho rằng thổ là căn bản, cái gì mà chẳng có thể về với đất. Tôi lại thấy có hành mộc, chắc là thứ gì dễ cháy như giấy. Vậy là lần này họ làm khó tôi bằng cách chọn thứ có 2 chất liệu khác nhau. Tôi hối hận đã biện luận cho họ nghe ở lần trước. Trong hổ quái có thêm hành hỏa, vậy chắc là vật bằng kim loại được rèn đúc. Tuy nhiên, như đã nói, lần này vật cần đoán nằm dưới cái nón to, không thể loại các vật to được. Tôi nghĩ: “hay xét thêm ý của quẻ xem sao”. Tiệm là tiến từ từ, và như có ai nhắc, trong đầu tôi chợt lóe lên: đồng hồ. Kim đồng hồ tiến từ từ, bằng kim loại, dây đồng hồ bằng da, dễ cháy. Thấy rằng có nghĩ thêm cũng không sáng hơn được, tôi bèn nói liều luôn: “đồng hồ đeo tay, có dây da”. Những tưởng sẽ nghe một tràng cười chế giểu, không ngờ bạn tôi dở nón lên, dưới nón là đồng hồ dây da thật và họ nhìn tôi thán phục.
Họ có yêu cầu tôi làm lần thứ 3 nhưng tôi chào thua vì biết rằng may mắn không thể lặp lại 3 lần. Bây giờ, có ai cá thách tôi làm như vậy nữa, tôi sẽ không nhận dù bây giờ kiến thức của tôi về ngũ hành vững vàng hơn trước nhiều. 

Tuesday, January 12, 2010

Linh hồn là gì?

Trong quyển “Thiền – Nghệ thuật của nhập định” có một câu hỏi dành cho Osho là “Thầy gọi linh hồn là gì? Có phải linh hồn chính là sự thức tỉnh hoặc là cái gì đó như là cá thể?”
Osho đã có câu trả lời khá hay, tôi xin trích đoạn và tóm lược như sau:

Phẩn thứ nhất là về linh hồn.
“Đã có 3 thái độ về vấn đề này:
Đâu tiên là những nhà huyền môn, nhưng người biết, họ đang hoàn toàn giữ im lặng về vấn đề này. Họ sẽ không đưa ra bất kỳ định nghĩa nào; họ nói định nghĩa là vô tích sự. Có nhóm huyền môn khác – nhóm lớn hơn – họ nói rằng, thậm chí, nỗ lực phù phiếm cũng trở nên hữu ích. Đôi khi lý thuyết sai cũng dẫn đến sự thật, đôi khi những điều sai trái cũng trở thành đúng, đôi khi những bước đi giả tạo cũng dẫn bạn đến kết cục có lý. Ở thời điểm nào đó nó có vẻ sai, nhưng phương kế sai lại có thể trở nên hữu ích.
Nhóm thứ 2 cảm nhận rằng, với việc giữ nguyên sự im lặng bạn vẫn tiếp tục nói một điều gì đó mà nó không thể nói lên điều gì. Và nhóm huyền môn thứ 2 đã có lý. Các định nghĩa đều phụ thuộc vào họ.
Và có nhóm thứ ba, họ là những người không im lặng mà cũng không định nghĩa. Họ chỉ định nghĩa toàn bộ vấn đề để bạn không bị ám ảnh với nó.
Đức phật thuộc nhóm thứ 3. Nếu bạn hỏi người rằng có hay không linh hồn, có hay không thượng đế, có hay không sự tồn tại bên ngoài cuộc sống, người sẽ từ chối.
….
Ba nhóm này luôn trong tình trạng tranh cãi, bởi vì người nói buộc phải cảm nhận rằng, những người giữ im lặng không có đủ lòng trắc ẩn, rằng họ phải nói một cái gì đó với những người không hiểu sự im lặng. Và những người định nghĩa thì họ đã định nghĩa bằng rất nhiều cách đến mức có nhiều sự tranh cãi về điều đó: sự tranh cãi buộc phải có đó”


Nhiều người có thể hiểu dễ dàng những dòng trên nhưng cũng có thể nhiều người khác thấy bối rối. Tôi xin giải thích thêm:
Chuyện linh hồn không thể giải thích rốt ráo bằng lời nhưng con người thì không ngừng thắc mắc. Một số hiểu rằng, người bình thường không sao hiểu cho đúng được, có giải thích thì người ta cũng hiểu sai lệch và có khi còn sinh ra lắm chuyện nguy hiểm, nên họ im lặng. Nhóm thứ 2 cũng hiểu như vậy, nhưng họ thấy là im lặng làm ngơ trước sự tìm kiếm, thắc mắc của mọi người là không đủ lòng trắc ẩn. Họ bèn đưa ra những định nghĩa dù biết là nó không hoàn toàn đúng. Thảng hoặc, họ đưa ra những lập luận mà thực chất là chẳng nói lên điều gì. Vì rằng không hoàn toàn đúng hoặc chẳng nói lên điều gì nên các thầy khác nhau đưa ra những định nghĩa khác nhau và các môn đồ sau này, tha hồ tranh cãi không dứt!

Giải pháp thứ 3 là làm như đức phật. Người không trả lời thẳng các câu hỏi này mà hướng dẫn người ta đi theo đường đạo để đến ngày nào đó, tự trả lời cho chính mình.

Phần thứ 2 của câu hỏi là về tính cá thể của linh hồn.
Đầu tiên phải giải thích tại sao lại có câu hỏi như vậy: theo Hindu, sau khi qua vô số kiếp mài dủa cho hoàn hảo hơn, người ta có thể hòa vào đại ngã, nghĩa là cá thể không còn nữa; theo phật, sau khi chứng đắc sẽ không còn chấp và phân biệt “ta” và “không ta” nữa. Chính vì lẻ này vấn đề cá thể của linh hồn được đặt ra.

Câu trả lời của Osho như sau:
“Bạn hỏi linh hồn có phải là cá thể. Đó là câu hỏi vô nghĩa, nhưng nó thích họp với bạn. Đó giống như câu hỏi của người mù (trong câu chuyện sau) hẳn muốn hỏi:
Người mù di chuyển với cây gậy. Anh ta không thể di chuyển mà không có nó: anh ta tìm kiếm và mò mẫm trong bóng tối bởi nó. Nếu chúng ta nói với anh ta về việc phẩu thuật mắt để mắt có thể nhìn thấy thì người mù sẽ hỏi một cách rất đúng chỗ rằng: “khi mắt tôi bình thường, liệu tôi có khả năng mò mẫm trong bóng tối với cây gậy này không?”
Nếu chúng ta nói “bạn sẽ KHÔNG CẦN cây gậy nữa”, anh ta sẽ không tin điều đó. Anh ta sẽ nói: “không có cây gậy này tôi không thể tồn tại, tôi không thể sống. Những gì bạn nói là không thể chấp nhận. Tôi không thể tưởng tượng chuyện đó, không có gậy, tôi không thể là tôi. Cái gì sẽ trở thành cây gậy của tôi? Đầu tiên hãy cho tôi điều đó đã!”

Thật sự, tính cách này giống như tính cách của cây gậy. Bạn đang mò mẫm trong bóng đêm cùng bản ngã, bởi vì bạn không có linh hồn; bản ngã này, “cái tôi” này đang mò mẫm bởi vì bạn không có đôi mắt sáng. Tại thời điểm bạn trở nên hoàn toàn sống động, bản ngã sẽ biến mất. Đó là một phần sự đui mù của bạn, một phần sự không sống động, một phần vô thức của bạn, một phần ngu dốt của bạn. Nó phải thực sự được bỏ rơi.”

Cho phép tôi được giải thích thêm là, nhiều người cảm thấy khó chịu với ý nghĩ không có bản ngã, không có một cá thể nào mang tên “tôi”. Họ tự hỏi “nếu tôi tan biến đi, bản ngã tan biến đi, thì có khác gì chết hoặc là biến mất vĩnh viễn”. Chú ý là nhiều người tìm đến tôn giáo vì không chịu nỗi ý nghĩ mình sẽ tan biến hoàn toàn khi chết; họ mong mỏi “trở thành” gì đó sau khi chết.

Ý kiến khác
Trong cuốn “Huyền thuật và các đạo sĩ Tây tạng” của bà Alexandra David Neel, vấn đề này cũng được đề cập tới nhưng có vẻ dịu dàng và dễ chịu hơn. Xin chép lại đoạn sau, bắt đầu từ trang 29 (bản in của nhà xuất bản Phương đông):
“Vì lý do nào đó, tôn giáo Tây tạng chú ý rất nhiều về cõi giới bên kia cửa tử, hầu như câu chuyện nào cũng đề cập đến cõi giới này. Quan niệm thông thường cho rằng linh hồn con người vốn bất tử và di chuyển qua muôn ngàn kiếp sống luân hồi để học hỏi và thay đổi. Điều này thật ra không đúng lắm vì phật giáo không hề chủ trương có một cái gì trường tồn, bất biến như linh hồn. Nói cho đúng hơn thì họ tin rằng cái “sinh lực” hay “sự sống” tạo ra bởi trạng thái tâm và sinh lý của một sinh vật đều do nhân duyên tạo thành và do nghiệp dẫn dắt đi trong sáu nẻo luân hồi.
….
Có nhiều lối giải thích khác nhau và nhiều lý thuyết về sự hiện diện của bản ngã nhưng tại Tây tạng cũng như mọi nơi khác, chỉ những bậc đạo sư hay giới trí thức mới có thể hiểu rõ và giải thích tường tận các điều này. Phần lớn dân chúng tin tưởng giản dị rằng con người sau khi chết sẽ đầu thai trở lại dưới một hình thức nào đó tùy theo hành động của đời sống hiện tại. Cái “năng lực di chuyển từ kiếp này qua kiếp khác” được diễn tả bằng danh từ “Yid Kyi Mampar Shespa” có phần đúng hơn là danh từ “linh hồn” (spirit) vì nó không đề cập đến một thực thể có tính cách trường tồn bất biến”

Theo tôi thì một số dịch giả Việt nam cũng đã dùng từ “Thần thức” để thay cho từ “linh hồn”.


Có một hiện tượng liên quan tời chuyện linh hồn là ma quỷ. Tây tạng là xứ sở của các huyền thuật. Các cao tăng Tây tạng cho rằng đó chỉ là phóng ảnh của tâm thức. Do đó, một người không tin có ma quỷ sẽ không nhìn thấy ma quỷ bao giờ. Tuy nhiên, họ cũng lưu ý rằng nếu như bạn đang đi trong rừng mà có con cọp nhảy xổ ra thì liệu đó là phóng ảnh hay là hiện hữu? Nó đang gầm rú kia và sắp xơi tái ta kìa!?
Thế nên, dù là phóng ảnh thì cái tư tưởng được tạo ra kia cũng có một sức mạnh riêng của nó và biết đâu, có thể nó cũng có đời sống riêng. Kết luận cho đoạn này, bà Alexandra Neel đã viết “Nói một cách khác, không những người ta phải đề phòng những con cọp mà họ đã phóng chiếu lên trong tâm thức mình mà còn phải cẩn thận đối với những con cọp tạo bởi những tư tưởng của người khác nữa.”

Cuối cuốn sách, bà Alexandra Neel đã kết luận về những huyền thuật siêu đẳng mà mình đã chứng kiến và kể lại trong cuốn sách, có đoạn như sau:
“Sức mạnh của tư tưởng có thể tạo ra “hình tư tưởng” hay một thực thể có sự sống riêng biệt, có thể hành động tùy theo mệnh lệnh của người tạo ra chúng, đó là căn bản của các phương pháp luyện âm binh. Vì việc tạo một hình tư tưởng trừu tượng không dễ dàng nên nhiều người đã phải xử dụng một vật hữu hình nào đó làm trung gian, đó là căn bản các bùa phép, linh đơn, nước thánh hay những linh vật phù hộ. …”

Để minh họa cho sức mạnh tạo ra bởi tinh thần, người Tây tạng thường truyền kể câu chuyện sau:
Một người lái buôn thường đi lại giữa Ấn độ và Tây tạng. Mẹ ông ta muốn con mình xin một viên xá lợi của thánh tăng mang về cho mình. Ông ta sau nhiều lần quên bẳng, khi về tới gần nhà nhớ ra và sợ mẹ mắng nên nhặt đại một mảnh xương nhỏ dọc đường gói lại cẩn thận đem về cho mẹ nói là xá lợi. Người mẹ hết sức mừng rỡ cho vào một bảo tháp vàng và đem lên hiến cho chùa. Dân trong vùng tin tưởng hàng ngày kéo tới cúng bái. Kỳ lạ thay, sau thời gian, viên xương đó cũng chiếu hào quang rực rỡ và tạo ra nhiều hiện tượng hết sức mầu nhiệm.

Bàn về hạnh phúc

Dưới đây là vài nghi nhận của tôi sau khi đọc quyển “Bàn về hạnh phúc” của Matthieu Ricard. Ông này là tiến sĩ sinh học người Pháp nhưng sau khi nhận bằng tiến sĩ đã bỏ tất cả qua Tây tạng học đạo và giờ đã ở đấy hơn 30 năm.

Cũng như những cuốn khác cùng chủ đề, tác giả đã dành nhiều trang sách nói về bản chất của đau khổ và chứng minh rằng, hạnh phúc là một cách sống mà người ta phải lựa chọn nó chứ không phải tìm kiếm ở bên ngoài. Ông đã có một diễn giải rất hay về những khoái cảm khi được thỏa mãn tham dục: Cái khoái cảm này giống như sự khoan khoái khi gãi ngứa. Tất nhiên là rất đã khi ngứa mà được gãi, nhưng càng gãi thì càng ngứa và đôi khi nó làm người ta gãi cho đến bật máu.

Xuất thân là nhà khoa học, ông diễn đạt những vấn đề gai góc của đạo học một cách sáng sủa mà lại không quá nôm na, sai lạc. Trong phần nói về “phá bỏ bản ngã” ông đã định nghĩa một cá thể gồm 3 phần: “cái tôi”, “con người” và “bản ngã”.

“Cái tôi” sống trong hiện tại, chính nó nghĩ “tôi đói”, “tôi đang tồn tại”. Đó là cái tôi thông qua kinh nghiệm hiện trạng của bản thân, cái tôi bản năng, cái tôi của “Ngã thức”.

Khái niệm “con người” rộng rãi hơn nhiều, nó là cái liên tục và năng động nối liền quá khứ, hiện tại và cả tương lai nữa. “Con người” cũng là tổng hòa các mối tương quan xã hội, thân thể, ý thức. Khái niệm về “con người tôi” này là lành mạnh nếu nó chỉ dừng lại ở mức khái niệm có tính ghi nhớ. Nó trở thành không lành mạnh nếu xem đó là thực thể tự chủ. Chỗ này khó hiểu, tôi xin mạn phép lấy ví dụ: “Tôi đã từng nghiên cứu lý số, từng xem cho nhiều người và được một số hoan nghênh” … đó là “con người tôi” như một bản ghi nhớ, nó không phải là thực thể. Nếu phát triển lên thành “tôi đã từng xem lý số rất hay và được kính trọng, tôi là cao nhân … và những gì tôi nói là chân lý …” thì thành mầm mống của đau khổ.

“Bản ngã” thì rắc rối hơn, nó là tổng thể không nhìn thấy được của chúng ta, là danh hiệu chung cho tất cả liên quan tới “tôi” như “tiếng tăm của tôi”, “tay chân tôi”, “gan ruột của tôi” … . Dù hết sức kính phục tác giả, tôi phải nhận là, ông ta cũng đã không làm sáng tỏ gì hơn một phần rất khó nhằn là chứng minh rằng, không tồn tại một cái gì như là cái “ngã” thực thể trong mỗi chúng ta. Ông ta chỉ chỉ ra được, cái ngã không có ở bất kỳ đâu trong chúng ta và chỉ là khái niệm nhưng được chúng ta nuôi dưỡng và tin tưởng là có thật. Tuy nói thì nghe dễ vậy, việc lãnh hội được điều này là vô cùng khó, mà chắc cũng khó lòng mà lãnh hội được chỉ qua con đường đọc sách đơn thuần.

Phần hay nhất của cuốn sách là phần nói về những nghiên cứu xã hội học để tìm hiểu mức độ hạnh phúc và những yếu tố ảnh hưởng tới nó.

Trong suốt 30 năm qua, có hơn 2000 công trình nghiên cứu về hạnh phúc tại hơn 70 quốc gia. Ruut Veenhoven đã tổng kết hầu hết các nghiên cứu và đưa ra 3 kết luận chính:
- Gen quyết định khoảng 50% khả năng hạnh phúc của một cá nhân.
- Những yếu tố như giáo dục, gia đình, xã hội có ảnh hưởng đến hạnh phúc nhưng không nhiều, chỉ vào khoảng 10 tới 15%.
- Phần còn lại là do thái độ và sự lựa chọn của chính cá nhân đó.

Trước tiên phải dừng lại và nói cho rõ là, để biết cái nào là do di truyền cái nào là do ngoại cảnh, người ta đã tập trung nghiên cứu các cặp sinh đôi. Những cặp sinh đôi cùng trứng có gen và môi trường nuôi dưỡng như nhau nếu được nuôi chung. Nhiều đôi, được tách ra từ nhỏ và sống với cha mẹ khác nhau thì là cùng gen nhưng khác môi trường nuôi dưỡng. Ví dụ như nghiên cứu của Tellegen, quan sát hàng trăm trường hợp sinh đôi được nhận nuôi riêng biệt, đã kết luận rằng, những đứa trẻ này có những đặc điểm tâm lý giống cha mẹ đẻ hơn (dù họ không nuôi chúng) cha mẹ nuôi. Hàng nghìn nghiên cứu tương tự đã được tiến hành và đã đưa đến kết luận như nêu ở trên.

Cái này cũng hết sức có ý nghĩa cho người học lý số. Những cặp song sinh, dĩ nhiên là không kể một xác suất rất nhỏ là sinh vào giao điểm 2 giờ, có cùng một lá số. Thế mà, theo nghiên cứu, gen chỉ quyết định 50%, 15% nữa là do môi trường, cũng có thể hiểu là cũng do vận số và có thể phát biểu lại là nếu cùng lá số, cùng môi trường nuôi dưỡng thì mới triệt buộc chưa đến 65% khả năng hạnh phúc, còn khoảng hơn 35% còn lại vẫn là do chúng ta lựa chọn và quyết định. Tỉ lệ này không phải nhiều nhưng cũng không ít. Tóm lại, trong khi cụm từ cải sửa số mệnh có thể chưa chính xác thì việc cá nhân có nhiều lựa chọn trong khuông khổ số mệnh là điều không còn nghi ngờ gì nữa (qua các nghiên cứu tâm lý học nêu trên).

Friday, November 6, 2009

Lý trong tướng số

Khi học lý số, một số người thích sưu tầm những công thức ngắn gọn, rõ ràng và ghi nhớ như là bí kiếp. Thật ra, việc giải đoán không thể quá đơn giản và dể dàng công thức hóa khi mà ta mong đợi nó đoán chính xác cuộc sống thiên hình vạn trạng và vốn cũng không mấy khi rỏ ràng dứt khoát .

Tất cả đều là gián tiếp
Có người thắc mắc tại sao có sách nói cung phụ mẫu ở tai, sách khác lại nói ở đỉnh trán và sách khác nữa lại nói nằm ở 2 phần thái dương và thái âm trên trán.
Thật ra thì, tai (nhất là phần trên – tướng thuật chia tai chia làm 3 phần) cho ta biết về sự chăm sóc về vật chất trong thời thơ ấu mà đương số được hưởng. Ví dụ như có được cho ăn đầy đủ không, đau ốm có được chạy chữa không, lạnh có được ủ ấm không … v v. Trong khi đó, phần đỉnh trán là vùng biểu thị chất lượng tình cảm và tinh thần mà đương số được hưởng trong khoảng thời gian khoảng từ 2 cho tới 9 tuổi. Phần thái âm và thái dương thì cũng tương tự vậy nhưng từ khoảng 9 tuổi tới 14 tuổi. Vùng âm và dương và phần phụ cận nói lên thanh thế và truyền thống gia đình. Dĩ nhiên, những dấu hiệu của tai giúp ta, một cách gián tiếp, phần nào đoán được về cha mẹ của đương số và trán cũng vậy. Tuy nhiên, nếu hiểu rỏ bản chất vấn đề như trên, ta có thể phối hợp để, chẳng những hiểu chi tiết hơn về tình trạng cha mẹ của đương số mà còn cả cái cách đương số được nuôi nấng và lớn lên – một mảng thông tin hữu ích cho cho việc tìm hiểu những mặt khác của cá nhân này.
Có nhiều vấn đề mà thông tin gián tiếp rất không chắc chắn nếu chỉ xem 1 bộ vị như khi xem quan vận hay tài vận. Có sách nói rằng quan vận ở giữa trán, sách khác lại nói quan vận ở mũi. Nhưng chắc chắn là 2 bộ vị này không đủ để xác quyết vấn đề.
Vào khoảng từ 14 đến đến 28 tháng tuổi, trẻ sơ sinh bắt đầu biết phân biệt “ta” và “người”. Khả năng xử lý với các cảm xúc khi tương tác với người xung quanh, chúng học ở những người nuôi dưỡng chúng trước tiên, sau qua bạn bè thầy cô. Khả năng này thể hiện ở trán. Ngoài ra, trí năng và các xu hướng tư duy cũng thể hiện ở đây vì sau khi nhận thức thấy mình tồn tại, tư duy phân biệt được, thua, hơn, thiệt bắt đầu phát triển mạnh (mà các rắc rối của cuộc đời cũng theo đó mà tới. ). Thế nên xem trán cho ta ước đoán khả năng thành công của một người.
Thế nhưng đấy chỉ là ước đoán thôi, đầu óc không chưa đủ, người đó cần có một nền tản khí lực dồi dào nữa. Trong tướng số, mũi tượng trưng cho 2 cơ quan hết sức quan trọng, đó là phổi và tim. Về tổng quát, nó biểu trưng cho khí lực tiềm tàng, tức khả năng thực hiện tới cùng một việc khi người ta muốn. Mũi như là ngọn núi trung tâm, khí luân chuyển trên mặt người đều đi qua mũi giống như khí luân chuyển trong cơ thể qua cột sống. Vì vậy mà phải kiểm tra mũi như là một điều kiện cần nữa cho sự thành đạt.
Ngoài ra, người ta muốn gì cũng là một điều quan trọng. Nếu chỉ mong muốn những thứ quá điên rồ hay vượt quá xa khả năng thì khó có thể thành công. Ta lại phải nhìn qua vùng lông mày và mắt, đặc biệt là mi cốt cơ quan biểu trưng cho những xu hướng cảm xúc của chúng ta. Hầu hết các sách đều cho rằng cái hay của mũi chỉ được phát huy khi phần mắt không ám hảm.
Mà như tôi đã từng viết ở đây, có tài năng thì cũng phải đổ mồ hôi, tức muốn nên chuyện thì kiểu gì cũng phải vất vả lắm, điều mà nhiều người không mấy sẵn lòng chịu đựng. Ta cũng thường thấy trong đời những người không thiếu khả năng nhưng ngại làm việc, thích vui chơi, lè phè hơn. Người ta chỉ có thể chịu đựng hết các nỗi cực khổ, nhọc nhằn trong công việc khi người ta có đam mê mạnh mẽ. Năng lực tinh thần này thể hiện ở quyền. Bộ quyền cho ta biết năng lực đam mê, sự cuồng nhiệt của một người có kéo dài và mạnh mẽ không, có dám xả thân cho mục đích của mình không. Quyền ăn theo mũi, nếu quyền to mà mũi kém thì có thể có lắm chuyện không hay (Kháng quyền bất như kháng tị - xem quyền rất khó, sai một tí đi xa lắc).
Người mà có hết những điều kiện trên cũng khá chắc là thành công nhưng để sự nghiệp to tác còn 2 điều nữa, đó là: họ sống có thọ không và có đủ nhẫn tâm không. Vì rằng “nhất tướng danh thành vạn cốt khô”, để thành công, đôi khi người ta phải rất nhẫn tâm để làm việc phải làm. Thế nên, chúng ta cũng phải xét xem hàm họ có đủ to không, răng của họ có mạnh mẽ đủ uy hiếp người khác không.
Cách xem khác là bắt đầu từ mũi rồi xem rộng ra quyền, tráng, mắt và hạ đình. Trình tự và lập luận có khác nhưng những bộ vị cần xem thì cũng như nhau. Cách xem như vậy có sách gọi là “Hỗn lưu cục”. Có sách không gọi tên nhưng có chỉ cách phối hợp, có điều là có lẻ để tránh đi việc quá rườm rà, phức tạp làm hoa mắt người đọc, họ chỉ nói qua loa và không hề giải thích tại sao khi xem cái này lại phải phối hợp cái kia và phối hợp ra sao.

Những sai lầm và vài nhận xét.
Hồi mới học tướng, có lần trà dư tửu hậu, tôi khoác lác rằng muốn biết cha mẹ thế nào thì phải xem trán. Có ông khoảng gần 50 mỉm cười hỏi tôi thấy cha mẹ ông ra sao. Tôi nhìn và thấy đỉnh trán hơi hãm, chỉ hơi thôi, nhưng vì không biết cân phân nên tôi bèn nói đại chung chung là “anh xa cha mẹ từ nhỏ nhưng không rỏ vì sao”. Ông này nói “tôi sống với cha mẹ từ nhỏ cho tới trưởng thành” nhưng cũng công nhận cha mẹ ông không bình thường. Số là, cha ông tới năm ngoài 60 mới quan hệ với mẹ ông, lúc đó là một người ở trong nhà mà sinh ra ông. Có ông thì cha ông mừng lắm nhưng tuổi đã cao, không có chuyện bế ông đi quanh nhà mỗi khi ông nóng sốt hay khóc quấy không chịu ngủ, càng không có hành động giáo huấn nghiêm khắc mỗi khi ông có lỗi lầm như kiểu những người cha thường làm đối với con trai. Còn mẹ ông, là thân phận người làm, việc săn sóc gần gũi ông hết sức hạn chế và chịu sự giám sát chặt chẽ của các bà chị lớn tuổi và khó tính của ông. Câu chuyện này cho ta thấy một kiểu sai lầm không tránh khỏi khi xem qua sơ sài theo công thức và cũng là hậu quả của sự không hiểu rõ những chỉ dấu đó, về bản chất nói lên điều gì.
Có lần tôi đọc đâu đó, có người nói, 2 tai mà ép sát đầu thì là quan chức nhà nước. Cái này cũng là một công thức rút gọn đốt cháy hết các bước trung gian. Thật ra, những người có tai vểnh ra (nghinh phong nhỉ) thường không nhẫn nại, hay phản kháng lại hoàn cảnh nên có khả năng(chỉ là có khả năng thôi) dẫn đến số phận lênh đênh, thăng trầm, vô định. Ngược lại, những người có tai ép sát đầu, dung nạp hoàn cảnh tốt hơn, nhẫn nại và có khả năng điều chỉnh bản thân mình theo thời thế. Chính vì lý do này, trong một hoàn cảnh xã hội nhất định, loại người này dễ thăng tiến trong các cơ quan công quyền. Tuy nhiên, không phải ai có tai ép sát đầu cũng thành quan chức. Tôi có người bạn hiện buôn bán máy vi tính ở Bùi Thị Xuân, tai cũng ép sát đầu. Anh này cho rằng bí quyết để mình tồn tại cạnh những cửa hàng to lớn, rực rỡ là khả năng phục vụ tận tụy và chiều theo những ý muốn quái đảng hay khó chịu nhất của khách hàng. Điều ngược lại cũng vậy, hãy thử tìm trên mạng và nhìn ảnh chụp ông Huỳnh Ngọc Sĩ, nhân vật chính trong vụ hối lộ PCI, 2 tai ông này không hề ép sát đầu nếu không muốn nói là hơi vểnh.
Hiểu rỏ và đi vào thực chất hơn cho phép chúng ta phối họp chữ THỜI vào trong luận đoán. Trong thời thái bình, người tài không cần máu lửa lắm cũng có thể được khuyến khích phát triển và thành đạt, nghĩa là trán đẹp mũi đẹp là khá đủ; Còn trong thời loạn lạc, không cần tài nhiều mà chỉ cần quan hệ tốt, thì một cái trán tốt, tai tốt cũng làm được quá nhiều điều.

Nhân đây cũng nói qua 2 khuynh hướng trong tướng số. Một khuynh hướng chú trọng hình xương, còn khuynh hướng kia chú trọng những biểu hiện bên ngoài như da thịt, nốt ruồi … Xem xương tất nhiên khó hơn vì nó nằm ẩn bên dưới nhưng có phần chắc chắn và đỡ gián tiếp hơn, còn phần thịt và da thì gián tiếp của hình xương và có thể dễ có nhiều sai lệch do mập ốm, nắng mưa … và thẩm mỹ viện. Có điều, da thịt nằm ngoài nên dễ xem hơn. Trong những ví dụ ở trên, xu hướng xem hình xương coi cung quan và phụ mẫu đều ở trán, còn xu hướng thứ 2 cho là phụ mẫu ở tai còn quan lộc ở mũi. Trán là nơi nhìn được xương rõ nhất trên mặt, sau đó là quyền và hàm (kể cả răng).
Xu hướng xem xương thì chú trọng nhiều tới quan sát chuyển động của đương số như đi đứng nằm ngồi, quang sát toàn thân (long hổ cốt, bàn tay, bàn chân, lưng, cổ chân, đầu gối ..) , ít chia hình cách và luận ngũ hành nhưng xem kỹ âm dương (thịt là âm; xương là dương; cong, mềm, tròn là âm; thẳng, cứng góc cạnh là dương … âm dương phải tương xứng và đúng vị), phương vị (tướng nam, tướng bắc …). Xu hướng kia thì ngược lại, chú trọng cục cách (như kiểu tướng cọp, tướng khỉ, ngũ đoản, ngũ lộ …), ngủ hành (chia hành các phủ và độc, định hành tướng người … ) và rất quan trọng nốt ruồi. Vì dễ xem hơn, các kiến thức về tướng phổ biến thường thuộc xu hướng này.
Khi học sâu hơn, cũng như những môn khác, người ta sẽ thấy sự hội tụ của các xu hướng và biết áp dụng các kỹ thuật đúng lúc, đúng chỗ. Ví dụ như nếu quá chú ý nốt ruồi, gặp giống dân Bắc Á, nội đếm nốt ruồi thôi cũng đủ mệt chứ đừng nói chi luận giải ý nghĩa. Còn như quá chú ý tới chuyển động, có thể sẽ cảm thấy khó khăn khi phải xem qua hình (rất mốt hiện nay, có người còn xem tướng qua lời mô tả nữa!?). Dù sao, phải nhớ rằng, những nhân vật hàng đầu thiên hạ thường có một khung xương mỹ tú dù da thịt có thể tầm thường.


CÁC LỚP Ý NGHĨA CỦA NHÂN DIN
Có 3 lớp ý nghĩa chính cho cùng một vị trí trên mặt người. Đó là:
-          Các bộ vị, sách gọi là ngũ nhạc, ngủ độc, lục phủ …
-          Các cung, giống tử vi như mệnh, tài, quan …
-          Các niên vận, như từ đỉnh tráng đếm xuống là 15, 16, 19, 22, 25 tới ấn đường là 28…
Còn nhiều lớp ý nghĩa khác như y tướng học dùng trong đông y, phương vị trong địa lý … nhưng không bàn ở đây.
Vấn đề là khi xem và luận cát hung của từng lớp, cách đánh giá khác nhau. Ví dụ: không thể nói nam nhạc đẹp thì là cung phụ mẩu đẹp, các hạn trên đó đẹp. Nói chung là cái mệnh đề “Cái trán này đẹp” là chưa đủ và tối nghĩa. Để cho dể hiểu, lấy cái trán làm ví dụ:
Lớp thứ nhất 1: Tráng là nam nhạc thuộc ly, chủ văn minh. Thường người ta xem trán để đoán trí tuệ và xu hướng tiềm tàng của đương số. Ví dụ tráng phẳng dựng đứng là người thông minh, mạnh về logic (tư duy hội tụ), trong khi người có trán cong, rộng thì mạnh về trực giác và sáng tạo (tư duy phân kỳ). Tùy vào hình thể rộng hẹp, ta có thể có manh mối về nghề nghiệp phù hợp với đương số … đại khái vậy, thật ra thì đây là lớp khó nhất và phức tạp nhất, cũng là lớp thuần tướng số nhất.
Lớp thứ 2: Khi xem cung phụ mẫu, chỉ có phần đỉnh trán và phần thái Âm, thái Dương là liên quan mà thôi. Cái cần nhìn trước tiên là độ cong từ đỉnh đầu xuống của phần đỉnh trán và độ rộng của nó. Đường cong này phải tự nhiên không móp hảm thì cha mẹ mới ổn. Nếu không có đường cong này, tức từ chân tóc ra, tráng hầu như thẳng xuống, có thể đoán là không gần cha mẹ lúc nhỏ (được gửi nuôi).
Lớp thứ 3: Các hạn vận thì chủ yếu xem hình dạng hình học của vùng cục bộ đó và màu sắc của nó. Nếu chỉ có một phần của hạn bị khuyết hảm hoặc có màu sắc bất thường, phải nghĩ là người thân của đương số có nạn chứ không phải bản thân đương số. Nhấn mạnh về màu sắc: Màu là màu của phần da thịt ẩn dưới lớp da ngoài, đừng lầm với màu da mà xoay ra tính luôn lang beng và mụn nhọt vào luận đoán.
Nhân đây cũng nói thêm là theo truyền thống, đầu tiên phải học xem lớp thứ nhất cho thuần thục rồi mới tới các lớp kia nhưng tôi thấy có người viết cuốn sách, tiếp cận theo hướng nhào vô coi hạn liền. Theo tôi, đây cũng là một ý hay vì nói cho cùng xem bói là xem năm nào có chuyện gì xảy ra, khi nào đụng chuyện thì tra cứu ngược lại các cung và bộ vị để kiểm chứng cũng được.
VĂN, LÔNG MÀY VÀ NỐT RUỒI
1. Văn - các nếp nhăn trên mặt.
Trán thường có 3 nếp nhăn, theo thứ tự là Thiên, tượng cha mẹ, người trên; Nhân, tượng trưng bản thân và Địa, kẻ dưới, vợ con bạn bè. Theo những phái coi trọng văn, thì những đường này hết sức quan trọng, họ chia làm nhiều hình tướng như cô quả văn, độc hạc văn … Nói chung, văn rõ vừa phải, thẳng không đứt đoạn là tốt, thiếu văn hay chỉ có một nữa đường thì xấu.
Như có thể đoán, việc hình thành các văn này được tạo ra từ  tính tương họp âm dương của trán, tức độ cong, phẳng, thịt,  xương …. Ví dụ: văn trên cùng tượng cha mẹ, nếu 2 phần Nhật Nguyệt giác tương hòa, văn này sẽ thẳng, còn nếu một trong 2 hảm khuyết, văn này sẽ đứt đoạn.
Về văn ở ấn đường, chỉ có mỗi trường hợp là có 2 đường song song là ngon thôi, bát tự văn (hình chữ bát) hay huyền châm phá ấn (một đường xuyên ngang ấn đường) đều xấu. Cũng tương tự trán, văn này ra sao cũng bị quyết định bởi độ nhô của mi cốt và độ rộng của ấn đường.
Số nếp nhăn của đuôi mắt, nhiều người khoái chuyện giật gân, cho là số cuộc tình. Thật ra những cơ quanh mắt có 2 nhóm. Nhóm cơ phía trong, sát mắt thì người ta có thể điều khiển theo ý mình (để mhắm, ở mắt). Nhóm cơ phía ngoài thì chỉ co giật theo cảm xúc của chúng ta và phần lớn chúng ta không thể điều khiển được (theo Paul Ekman). Nhìn vùng cơ này, ta có thể đoán được các xu hướng xúc cảm của đương số. Khi nhóm cơ ngoài co, nhóm cơ phía trong sẽ bị nhăn bất thường, chính vì vậy, dò tìm các xúc cảm đã qua thì nên nhìn những nếp nhăn sát mắt chứ không phải đuôi mắt.
Kết luận cho chuyện văn trên mặt: nếu đã xem kỹ được hình cốt và da thịt thì văn không còn mấy ý nghĩa nữa. Vấn đề là, văn dễ xem hơn nhiều, không cần khả năng quan sát hình 3 chiều (mà nhiều người rất kém) nên phủ nhận toàn bộ giá trị của nó thì cũng không đúng, nhưng tin hoàn toàn thì cũng không nên. Tốt nhất là xem đó như là một gợi ý.
2. Lông mày: Có người nói “vấn danh tại mi” - nếu muốn biết anh là loại người gì thì hảy nhìn lông mày. Có người thì cho là lông mày chẳng qua là chi tiết ngoại vi, không đáng kể.
Thật ra lông mày đánh dấu mi cốt. Thế của lông mày cho ta biết hình của mi cốt.
Thử khảo sát vài vấn đề lùng bùng xung quanh lông mày.
Lông mày giao nhau thì sao:  Nếu lông mài giao nhau, trong nhiều trường họp, là do 2 mi cốt quá gần, tất nhiên làm cung mệnh hẹp lại, nếu mi cốt mà nhô cao, cung mệnh sẽ tối đi. Nếu là vậy, tất nhiên khả năng thích ứng và giải quyết các xung đột trong cuộc đời của đương số kém dẫn đến đời sống nhiều điều bất toại ý. Nếu cạo đi thì cũng chẳng thay đổi được gì vì phần mi cốt bên dưới vẫn thế.
Trường họp ngược lại, lông mày lấn vào ấn đường chỉ vì tốt râu, tốt tóc quá, 2 mi cốt vẫn đủ xa và phẳng thì không có vấn đề gì nghiêm trọng cho bản mệnh, hơi có vấn đề chút cho người phối ngẩu thôi. Mà đã thế cũng chẳng đáng để cạo.
Có người luận là lông mày giao nhau là anh em xung khắc là hoàn toàn sai. Cung huynh đệ không nằm ở đầu mày. Đuôi mày cũng chỉ là một phần của cung huynh đệ thôi. Thế nên, những người có đoản mi, la hán mi, vĩ tán mi cũng chưa chắc là xung khắc anh em. Mà đâu cứ xung khắc mới xấu.
Thế của lông mày, như trên đã nói, phản ánh hình dạng của mi cốt và hố mắt; độ xanh tươi, rậm rạp của mày tùy thuộc vào độ nhô của mi cốt.
Sách nói mi trường quá mục thì chung thân phú quí: thật ra sau câu trên, người ta cũng nhấn mạnh là quang mắt phải tốt thì mới ăn được cách này. Chẳng cần mi trường quá mục, quang mắt mà đẹp thì mọi hình tướng xấu của mắt sẽ giảm nhẹ đi gần hết (trừ qủy nhãn).
Cũng tương tự như văn, mày thì dễ xem hơn mi cốt và những vùng phụ cận nhưng cũng dễ nhầm lẫn.
3. Nốt ruồi:
Tôi có thấy khoảng 5 hay 6 cái sơ đồ nốt ruồi trên mặt kèm theo chú giải cho từng vị trí trong các sách khác nhau. Đáng buồn là không cái nào giống cái nào.
Như đã từng nói trong phần viết về các phương pháp đoán số, nền tảng của con người là khung xương, kế tới da thịt và cuối cùng là khí vận chuyển trong hệ thống kinh lạc trong cơ thể (các thầy châm cứu nghiên cứu hệ thống này rất kỹ). Nếu dòng sinh lực này bị nghẽn hay phát động bất thường, nốt ruồi được sinh ra.
Như vậy, nốt ruồi chỉ là dấu ấn hay là tiềm ẩn báo trước một sự việc. Điều này là dỉ nhiên thôi vì một nốt ruồi ngoài da, có khi lúc ẩn lúc hiện không thể phủ định cái căn bản xâu xa của con người là xương cốt, tức không có thể có nốt ruồi sát phu như kiểu mũi hay quyền sát phu được.
Để cho dễ định hướng và tự kiểm tra, người học tướng nên luận nốt ruồi theo kiểu dấu tích của quá khứ hay báo trước một sự kiện. Ví dụ: nốt ruồi ẩn trong đuôi lông mày là dấu tích của tai nạn sông nước hay hỏa hoạn trong quá khứ. Nếu đương số chưa từng bị nạn này, thì nạn có thể xảy ra ở khoảng ngoài 40 tuổi. Ví dụ khác là nốt ruồi trên chóp mủi. Nó có thể chỉ tính hay cờ bạc của nam, tình chồng nhạt nhẻo ở nữ nhưng không chắc đúng 100%, cái chắc chắn là nó chỉ ra một sự chia cắt tài sản hay nặng hơn là phá sản, trắng tay vào tầm ngoài 30 tuổi.

Monday, August 31, 2009

Các tiểu xảo của ông đồng bà cốt

Có một người từng nổi tiếng xem chỉ tay tên là Ray Hyman. Anh này thú nhận rằng anh ta không tin tưởng chút nào thuật này dù anh có nhiều khách hàng và được khen ngợi nhiệt liệt. Ban đầu, anh ta nghĩ rằng mình có năng lực siêu nhiên nhưng sau khi nghiền ngẫm và quan sát chính cách xem của mình, anh tự thú là không thể tự lừa dối mình được nữa, những gì anh nói, thật ra là được sự giúp đỡ của chính người được xem.

Có một tiểu xảo thường hay được dùng, đó là “câu” thông tin (fishing for details). Chẳn hạn, có người đến muốn xem về công việc hiện tại, người thầy sẽ không nói vội vào chủ đề đã định mà nói đến những thứ liên quan xung quanh. Người nghe sẽ xác nhận hay phủ định, thậm chí còn kể lể nhiều chuyện và thế là thầy có thể thu thập nhiều thông tin của thân chủ để tiếp tục luận đoán lòng vòng quanh chủ đề chính, và tiếp tục “câu” thêm thông tin. Cái kết quả của quá trình này là thầy nắm được nhiều chi tiết và tâm lý, tính cách của thân chủ còn người được xem có cảm giác thầy “thấu thị” mọi thứ.

Cách câu thông tin này lại liên quan tới 2 kỹ năng. Một là nói những điều mà xác suất thường là đúng hoặc những câu tối nghĩa, hai nghĩa. Kỹ năng thứ hai là đưa ra nhận xét mơ hồ và để cho người được xem điền vào chỗ trống. Dù người xem tự điền vào chổ trống nhưng vẫn cảm thấy thầy đã đoán đúng.

Trong nhiều tài liệu mà tôi đọc được, họ đã đưa ra hàng loạt những câu, đoạn minh họa cho kỹ xảo trên nhưng có điều là trong văn hóa Việt Nam thì nó có vẻ không thuyết phục lắm nên tôi chỉ tạm dịch một trong những đoạn thấy khả dĩ gần nhất (cho người đến hỏi công việc):
“Những người gần gũi với anh đang lợi dụng anh, trong khi anh thì cư xử trung thực với họ. Anh có nhiều thời cơ thăng tiến nhưng vì không muốn lợi dụng hay làm hại ai mà anh không lên nhanh như người ta. Anh thường đọc nhiều sách báo nên có nhiều kiến thức và nhận xét sắc sảo, nếu anh có ý định ra làm riêng thì anh rất nên tiến hành. Anh có khả năng hiểu và thông cảm với người khác rất cao, nhưng không phải lúc nào anh cũng cư xử theo tình cảm vì tính anh rất công bằng và thường làm theo lẽ phải….”
Song hành với những câu trên, người thầy sẽ quan sát và tổng hợp những phản hồi của người nghe từ lời nói, ánh mắt đến chuyển động cơ thể để nói những điều mà thân chủ muốn nghe. Có điều ai cũng biết là khi nghe được những điều mình thích, người ta dễ dàng xác nhận là đúng.

Nhiều thầy chuyên nghiệp, chuẩn bị sẵn cả những “bài nói” hay những “đòn” khác nhau cho nhiều trường hợp khác nhau để lấy uy thế với khách hàng. Thật vậy, những vấn đề mà người ta đến xem thật sự không nhiều: tình duyên gia đạo, công danh, làm ăn, bệnh hoạn, mất của. Tôi nghĩ kể vậy là đã hơi nhiều rồi, thực tế còn gọn hơn. Ví dụ lấy chủ đề tình duyên gia đạo, thật ra không nhiều tình thế cho lắm, có thể chia tiếp chủ đề này ra 4 hay 5 tình thế. Qua phục sức, độ tuổi, nhan sắc, nét mặt và cách ăn nói của người xem, thầy chẳng khó gì đoán được thân chủ của mình đang ở tình thế nào. Có khi không cần nghe câu hỏi mà có thể phán luôn phủ đầu thân chủ.

Ví dụ, bước vào là một bà đứng tuổi ăn mặc sang trọng, trang điểm hơi đậm đà một chút, nét mặt thoáng lo âu, thì chắc chắn là gia đạo có chuyện, hay chí ít cũng nghi ngờ chồng có bồ. Nếu phong cách của bà ta nhanh nhẹn lịch lảm, có thể nói ngay cơ nghiệp do tay bà dựng lên, chồng chỉ lo ăn chơi sinh chuyện. Nếu thấy hơi chậm chạp, ăn nói không mấy trôi chảy, thì là loại nhờ chồng mà sang, đêm ngày lo chồng thay lòng đổi dạ.
Một ví dụ khác: một cô gái gần 30 tới gặp thầy bói lần đầu tiên (thường đi với một cô bạn giới thiệu) và hơi bối rối, không quá u buồn và nhan sắc không quá hấp dẫn, thầy có thể đoán ngay là cô này sốt ruột vì đã cứng tuổi mà chưa có hôn nhân. Nhiều khả năng là cô này quá thông minh so với mức có thể dể kiếm chồng.

Khi đã án chừng như thế, việc đưa ra những lời đoán làm thân chủ “giật mình” và khai tuồng tuột không có gì là khó. Khi thân chủ đã mê mẩn, họ không còn phân biệt đâu là điều thầy đoán được, đâu là điều mà thầy chỉ đơn giản là lặp lại chính điều mà họ khai ra nhưng dưới hình thức khác.

Nhiều thầy bói (thường là khi muốn moi tiền) còn chơi trò “vong nhập”, “vong theo” (haunting) để hù những nữ thân chủ yếu bóng vía. Vào những năm 70, 80, đời sống khó khăn, chăm sóc y tế kém, chuyện có con thứ 3 bị cấm ngặt, việc bỏ thai, hư thai, chết non là rất phổ biến. Người thầy có thể phán bừa là có vong theo, rồi trầm ngâm một lúc hỏi thân chủ “có anh em chết khi nhỏ không” và câu trả lời thường là có. Nếu thân chủ phải xác nhận lại với mẹ mình mà bà mẹ gật đầu thì nữ thí chủ kia phải gọi là “toát mồ hôi lạnh” với tài của thầy. Còn nếu câu trả lời là không thì, còn thiếu gì từ anh em họ cho tới bà cô, bà dì hay ông chú chết trẻ.
Kế theo màn vong nhập, là màn cúng vong hay đuổi vong đi. Thường thì thầy hay nói rằng, “nếu làm nó hài lòng thì nó sẽ đi” nên sau khi xong thủ tục (có khi rất tốn kém), nếu vấn đề thân chủ chưa được giải quyết, thì tại vong chưa thích đi hay “Thôi chết rồi, không phải một mà tới 2!”, còn như vấn đề được giải quyết, thì công thầy quá lớn.

Tương tự như ví dụ trên, có những lời dự đoán tưởng như tài tình nhưng thật ra thì xác suất đúng rất cao. Như có người hỏi “Tôi có thể bị thuyên chuyển, xin thầy coi có chuyển không, cát hung ra sao”. Thay gì chỉ cần trả lời dứt khoát có hay không, cương vị mới tốt hay xấu, thầy lại nói “chi phối anh hiện nay có tới 3 xếp”. Thường thì nhiều cơ quan có 1 trưởng và 2 phó. Nếu chẳng may, công ty có 4 hay 5 xếp thì phải hiểu là mỗi người có mảng việc riêng và cùng liên quan dính dấp thì cũng chỉ có 3 là cùng (như ví dụ này thì một xếp lớn, một xếp bộ phận cho đi, một xếp nữa nhận về). Thế mà, câu này có thể làm cho thân chủ cảm thấy là thầy đoán đúng và khai thêm nhiều chi tiết. Sau khi nắm được thông tin, thầy sẽ nói với nhiều chữ “nếu”, hoặc nói những câu hai nghĩa, khó diễn giải mà hầu như, thế nào thì thầy cũng đúng. Nhiều khi, chuyện rỏ mười mươi, nhưng do là người trong cuộc nên thân chủ không thấy ra, còn thầy thì người ngoài, lại giàu kinh nghiệm sống, chuyện phán đoán chính xác cũng là dể hiểu (trường hợp này đặc biệt đúng trong chuyện tình duyên, gia đạo). Cùng bí quá, thì những người khuất mặt hay những thế lực bên ngoài sẽ được viện đến và cát hung sẽ do họ quyết định, còn thân chủ thì thấy thầy đoán như thần.


Nhiều thầy gặp ai cũng nói là sắp có tiền. Khi người ta có tiền thật thì thấy phục thầy và … hậu tạ, còn như không có hoặc thậm chí mất, có ai tìm thầy yêu cầu chia sẻ tổn thất đâu mà lo.

Ngày trước, trong công ty tôi có nhiều người kéo nhau đi xin bùa bán đất, tức là xin bùa phù hộ cho họ bán được nhà hay đất thật nhanh và được giá (vào thời đô thị hóa nhanh chóng, đất ruộng thành đất thổ cư). Nhiều người suýt xoa khen là cứ xin bùa xong là bán được nhưng kỳ thật, khi người ta phải đi xin bùa thì quyết tâm bán rất cao. Những người bán được thì trở lại khen và hậu tạ, còn những người không bán được, tất nhiên là không đến đứng trước nhà thầy đòi lại tiền vì còn phải lo đi xin bùa của thầy khác.

Phải nói là trong khi nhiều thầy cố ý lừa người ta, thì một số không nhỏ cũng tự lừa dối mình như trường hợp Ray Hyman đã nói ở trên, tưởng rằng mình có năng lực phi thường. Kỳ thật, họ thực hiện những kỹ xảo trên gần như phản xạ, sáng tạo ra nhiều qui luật giải đoán mới mà không biết rằng, khi vận dụng quá nhiều cách giải đoán trái ngược, thì phương pháp mà họ dùng thành ra là luận theo chiều nào cũng được và thân chủ khen ngợi, hài lòng là nhờ những kỹ xảo đã được áp dụng.

Nhiều người email hỏi tôi sao không viết tiếp vì hình như còn nữa (mới nói kỹ xảo số 1). Thật sự, đây chỉ là một phần nhỏ quyển sách tôi đã đọc. Họ còn nói nhiều kỹ xảo nữa mà những kỹ xảo sau thì quá tinh vi, người được xem khó lòng mà phát hiện được thì nói ra cũng chẳng mấy có ích cho họ mà ngược lại, hình như lại có ích cho phía người xem.

Người đi xem số nên ghi chép lại và phân tích ra những thông tin mang tính xác quyết mà thầy đã nói về tương lai rồi kiểm chứng chúng, nếu như muốn xác định xem thầy có thật sự giải đoán chính xác hay không.

Cuối cùng tôi chỉ muốn nói thêm rằng, nếu như người ta có thể đoán đúng những gì đã hay đang diển ra, điều này không có gì đảm bảo là người ta sẽ nói đúng tương lai (cái ta cần). Ngay cả những người làm chủ được những sức mạnh siêu nhiên như liên lạc được với âm binh hay đọc được ý nghĩ người khác, chưa chắc cái sức mạnh đó có thể giúp họ đoán đúng được tương lai dù nó có thể đoán đúng vanh vách quá khứ, vì rằng, tương lai, nó vẫn một phần nằm trong tay ta (tôi tin vậy, dù tôi cũng là người xem lý số).

NHỮNG NGHI NGỜ VỀ KHẢ NĂNG CỦA PHÂN TÍCH CHỮ VIẾT

Thuật xem chữ viết (bao gồm cả chữ ký) đã phát triển lâu đời ở phương tây và có cả hiệp hội những người xem chữ viết trên thế giới.
Thoạt nhìn, xem chữ viết có tính khoa học hơn Horoscope nhiều. Người ta có thể hoài nghi ảnh hưởng của các vì sao tới số mệnh con người và rất nhiều người cùng chia sẻ một bản đồ chiêm tinh trong khi chữ viết thì không ai giống ai và do con người viết ra theo phản xạ tự nhiên.
Đáng tiếc là thực tế không như mong đợi. Ngày càng nhiều ý kiến nghi ngờ tính chính xác của việc phân tích chữ viết, nhiều người ngờ rằng việc khảo sát chữ viết gần như là vô ích. Nó chỉ đáng tin cậy khi cung cấp những thông tin đại khái như giới tính, tâm trạng và sức khỏe (vào thời điểm viết) của người viết. Còn lại thì việc dự đoán cá tính (personality) đã là không đáng tin chứ chưa nói gì đến chuyện tương lai, hậu vận.

Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng người ta có thể chủ động thay đổi chữ viết, ít ra là trong một văn bản ngắn để tạo ấn tượng tốt với người xem, trong trường hợp một số nơi yêu cầu đơn xin việc phải được viết tay.
Người ta còn chỉ ra rằng, khoảng đầu thế kỷ 20, ở Mỹ, mọi người hầu như có chữ viết gần giống nhau do ảnh hưởng của chương trình gọi là “Palmer Method” khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Ngoài ra, khắp nơi có những lớp hướng dẫn cải thiện chữ viết và thật đáng ngờ rằng sau khi cải thiện được chữ viết, người ta có thay đổi gì đó bên trong nội tâm. Một số người, làm những nghề như khắc chữ, thủ công mỹ nghệ, trang trí … có khả năng viết nhiều kiểu chữ khác nhau.

Trong luồng chỉ trích tính chính xác của phân tích chữ viết, World Economic Forum đã đưa lên mẫu chữ viết tay được cho là của Tony Blair, vào thời điểm ông này vừa bắt đầu nhiệm kỳ thủ tướng. Nhiều nhà bút tích học danh tiếng đã nhận xét rằng, người có chữ này có xu hướng tự sát và không có khả năng đeo đuổi tới cùng công việc đang làm (ám chỉ có thể mất ghế trước nhiệm kỳ). Sau khi người ta đã nhận xét rất nhiều với xu hướng đại khái như thế, World Economic Forum mới công bố rằng, chữ viết trên thật sự là của Bill Gate, người khó có thể được tin là có xu hướng tự tử và càng khó có thể cho là không theo đuổi nổi công việc của mình đến khi thành đạt.

Người ta còn kể đến chuyện, các chuyên gia hàng đầu về tâm lý của FBI đã nghiên cứu không chỉ chữ viết mà còn nhiều đồ dùng và nhiều thứ liên quan khác của tên tội phạm Ted Kaczynski. Thế nhưng sau khi bắt được hắn, hóa ra những dự đoán của họ đã sai nhiều hơn đúng. Cụ thể là: đoán rằng hắn từ 30 đến 40 nhưng thực tế là 53; cao 5'10" đến 6' nhưng thực tế là hắn cao 5’8”; nặng khoảng 165 pound nhưng thực tế là 143 pound, người ta đoán hắn thuộc giới làm công cao cấp và có bằng đại học trong khi thực tế hắn thất nghiệp suốt 25 năm và có bằng tiến sĩ toán; người ta đoán hắn tỉ mỉ, ngăn nắp, thích đeo đuổi và có vấn đề trong quan hệ với phụ nữ nhưng thực tế hắn bừa bải, bù xù và ẩn dật, không hề liên hệ với nữ.

Những thông tin trên đây được trích rút từ nhiều bài viết khác nhau trên mạng. Tôi tổng hợp lại những ý chính với hy vọng là mọi người có thể tham khảo chứ cá nhân tôi cũng không dám kết luận chắc chắn là môn xem chữ ký chữ viết có giá trị gì hay không. Bản thân tôi cũng từng nghiên cứu thuật phân tích chữ viết.

Saturday, July 25, 2009

Bàn về số mệnh và các phương pháp đoán số

Từ xa xưa người ta đã có khái niệm về số mệnh. Từ khi khoa học phát triển, nhiều người đã phản đối số mệnh kịch liệt. Tuy nhiên, số người tiếp tục tin vào số mệnh không ít, kể cả trong giới trí thức. Chính vì vậy, ở đây tôi xin trình bày quan điểm của mình về số mệnh và điểm qua các phương pháp đoán số để mọi người tham khảo. Tôi rất mong được chỉ giáo thêm.
I- Số mệnh là gì:
Thông thường người tin vào số mệnh cho rằng số mệnh là sự áp đặt trước số phận ( tương lai) mỗi người mà mổi cá nhân khó hoặc không thể thay đổi được. Theo tôi có thể diển đạt vấn đề như sau:
Ta có 1 vật thể bay trong không gian. Vật thể này chịu ảnh hưởng của rất nhiều trường lực. Các trường lực này biến đổi theo 1 qui luật nào đó. Nếu biết được qui luật của các trường lực này và biết thời điểm, vị trí vật thể bay xuất phát, ta có thể tính được quỉ đạo của nó. Qủi đạo này tạm gọi là quỉ đạo qui ước. Điểm khác biệt lớn nhất ở đây giửa con người và số mệnh so với ví dụ trên là:
- Con người có khả năng sửa đổi chính mình, từ đó sẻ bị ảnh hưởng bởi trường lực này hay khác nhiều hay ít hơn.
- Ý thức được mình đang đi tới đâu và có khả năng thúc đẩy hay chống lại quá trình đó.
- Thật ra con người không đơn độc mà còn tương tác qua lại với rất nhiều người (trong ví dụ trên là các vật thể) khác.
Các cố gắng trên chỉ có tác dụng trong chừng mực. Tuy nhiên, đôi khi chỉ 1 chút xíu lại thay đổi tất cả vì đôi khi lệch khỏi quỉ đạo 1 vài milimét sẻ biến 1 cú va chạm chết người thành 1 vụ va quẹt nhẹ.
Tóm lại trong giả định về số mệnh của tôi có hai điểm mấu chốt:
1. Số mệnh là 1 sự tác động mềm dẻo lên từng cá nhân theo 1 qui luật nào đó mà chúng ta không thể ý thức được trọn vẹn.
2. Trong đời người có những điểm tới hạn (critical). Tại các điểm này, nổ lực cá nhân có vai trò rất lớn.
II- Các phương pháp đoán số và khoa học:
Một bộ phận các nhà khoa học tinh tưởng vào các phương pháp đoán số đã cố tìm cách giải thích các nguyên lý của các phương pháp đoán số bằng khoa học. Ví dụ: Có người đề cập đến trường sinh học và thời sinh học, có người cho rằng Tử vi là 1 cách phân tích tâm lý, có người đã tìm ra cách tính điểm các ngôi sao tại các vị trí khác nhau trên lá số tử vi và cuối củng đã chứng minh được tổng số điểm trên tất cả cac lá số tử vi là 1 hằng số, nhiều người so sánh kinh dịch với hệ nhị phân của máy vi tính …vv.
Theo thiển kiến của tôi thì những khám phá trên tuy rất hay nhưng không đủ chặc chẻ và cũng không nên làm. Chắc hẳn người xưa đã không đi đến các qui luật lý số hoàn toàn bằng thực nghiệm, nghỉa là bằng cách đúc kết kinh nghiệm. Chắc chắn họ đã có hướng tiếp cận khác chúng ta và họ có cách tư duy và phát triển tri thức rất đặc biệt. Đành rằng 2 nền tản học thuật khác nhau cũng có thể đi đến 1 kết quả nhưng tại sau lại cố dùng thuyết này để chứng minh sự đúng đắng của 1 kết quả của một thuyết khác? Theo tôi, chúng ta nên theo cách xưa khi nghiên cứu học thuật của người xưa. Chỉ có điều, cách này đòi hỏi quá nhiều về bản thân người nghiên cứu.
Về phần khoa học, nói cho cùng thì cũng dựa trên các tiền đề. Các tiền đề này thì luôn được chỉnh sửa cho nó khớp với thực nghiệm kỹ thuật. Không nên cho rằng kỹ thuật là thành quả không thể tách rời của các học thuyết khoa học. Mải sau này con người mới biết đến vi khuẩn trong khi kỹ thuật thuộc da, làm rượu bia, ..vv đã có từ xa xưa. Kỹ thuật là hiểu biết của con gnười có tính thực nghiệm. Khoa học theo sau đưa ra các học thuyết. Các học thuyết này đôi khi đã thúc đẩy được kỹ thuật nhưng điều này không đủ chứng minh là các học thuyết ấy đúng hoàn toàn. Lịch sử khoa học đã từng có rất nhiều cuộc lật đổ các học thuyết khác nhau.
III – Bàn về các phương pháp đoán số:
Có 3 nhóm chính:
- Dựa vào thời điểm người sinh ra.( Tử vi, tứ trụ, bát tự…)
- Dựa vào biểu hiện trên chính cơ thể con người. ( Tướng số, xem mạch đốc, chỉ tay…)
- Dưa vào sự ngẩu nhiên ( Mai hoa dịch, độn, bói bài…)
1. Tử vi và các phương pháp thuộc nhóm 1:
Một câu hỏi thường được hỏi là hai người có 2 lá số giống nhau thì có số mệnh giống nhau không? Nếu vây thì tại sau vua chỉ có 1 mà người cùng lá số với vua thì nhiều?
Theo 1 số tài liệu thì với cách tính tử vi thì có tối đa khoảng 500.000 lá số khác nhau. Như vậy, nếu dân số là 75.000.000 người thì ta có số người có cùng 1 lá số là 150 người. Trở lại câu chuyện về vật thể bay, quỉ đạo của nó không chỉ phụ thuộc rất nhiều vào thời điểm mà còn vị trí xuất phát nửa. Người sinh ra trong các gia đình khác nhau, địa phương khác nhau thì vận mệnh cũng khác nhau cho dù có chung lá số.
Cũng có người đã quan sát hai người có cùng lá số và đã thấy họ có những điểm tương tự tại các vận hạn khác nhau. Tuy nhiên, chuyện giống nhau hoàn toàn là không có. Thêm vào đó, như tôi đã nói về điểm tới hạn ( critical), sau những điểm giới hạn này số mệnh hai người có chung lá số có thể rất khác nhau. VD: Thi đại học, điểm chuẩn là 20 điểm. Anh A. trong tình trang khó khăn vẫn rất cố gắng và được 20 điểm. Anh B kém bản lỉnh hơn chỉ được 19.5 điểm. Thế là người đậu, kẻ rớt. Không bàn thêm cũng thấy cuộc đời họ sau đó sẽ khác nhau. Sau nhiều điểm tới hạn như vậy vận mệnh họ sẽ rất rất khác nhau.
Một điểm nửa cần chú ý là tử vi mạnh về định tính hơn định lượng, thế mà như ta biết, lượng đổi thì chất đổi.
Xem tử vi theo tôi có các điểm sau nên chú ý :
- Tư vi phản ảnh quan điểm cổ xưa, khi áp dụng vào thời đại ngày nay cần có cái nhìn thoáng hơn.
- Tử vi phản ánh tương quan giửa người có lá số và sự vật xung quanh, không phải bản thân sự vật. Vi dụ: anh em đâu có cung phụ mẫu giống nhau.

Việc đoán số dựa trên ngày tháng năm dỉ nhiên là phụ thuộc vào cách tính giờ và tính lịch. Môn tử vi là ảnh hưởng nặng nề nhất và ta phải chấp nhận với nhau là có một số lá số không đáng tin cậy:
- Từ khi ra đời đến nay, âm lịch đã qua không dưới 100 lần cải cách. Nếu như nói môn tử vi mà có từ thời Tống là đúng thì xem tử vi có lẽ phải tính lịch theo kiểu Đại thống. Lịch âm mà ta dùng hiện nay là dựa trên cách tính lịch Thời hiến. Nếu đọc “Thời sinh học và khoa học cổ phương đông” sẽ nhận ra rằng những người làm lá số đã nổ lực rất lớn để bù trừ những cái sai khả dỉ có thể có từ việc tính lịch gây ra. Thế thì liệu rằng ngày nay tính lịch chính xác hơn (hay đơn giản là khác đi), các phép bù đó có còn cần không?? Chưa ai nắm chắc nguyên lý của tử vi đến mức dám điều chỉnh cách tính cả. Lưu ý là chỉ cần chỉnh cách tính lịch một chút, hàng nghìn, triệu người sẽ có lá số khác?!
- Như chúng ta biết, múi giờ và giờ là sản phẩm của khoa học hiện đại và giao ước xã hội. Ngày xưa người ta định thời khắc theo cách khác. Ví dụ thấy gà lên chuồng là giờ dậu, cọp quay về nơi ẩn nấp là giờ dần, hoặc nhìn bóng nắng …. Cách tính này phản ánh đúng ảnh hưởng của trời đất lên số mệnh con người khi họ được sinh ra. Ngày nay, chúng ta tính 11g00 là giờ tý, 1g00 là sữu … bất chấp mùa và vùng địa lý … hiển nhiên là có nhiều sai lệch. Có người đã đưa ra gia giảm giờ theo mùa nhưng cơ sở không vững lắm. Nhiều khi cứ hể thấy trời sẩm tối thì lấy giờ dậu mà có khi linh ứng hơn.
- Cụ Thiên Lương chia lá số ra bốn nhóm, Thái tuế, Thiếu dương, Thiếu âm và Tang môn. Tuy tôi không dám bàn ở đây về tính chất mỗi nhóm (dù chưa hoàn toàn đồng ý với cụ Thiên Lương), tôi xin đưa ra nhận xét là những người thuộc nhóm thái tuế là chịu ảnh hưởng bởi tử vi nhiều nhất. Ý tôi là cấp độ chính xác của tử vi đối với 4 nhóm là khác nhau. Người thiếu dương rất rộng đường lựa chọn hướng đi trong khuông khổ vận mệnh của mình, trong khi người thái tuế thì chỉ có một đường thẳng tắp, không ngã rẻ.

Một chuyện cũng ít liên quang nhưng thấy có người đả động đến nên tôi nói qua: Các sao trong tử vi có thật trên bầu trời không? Theo thiển kiến của tôi thì một số sao được đặt theo tên sao trên trời như Tham lang, Bạch hổ nhưng một số khác thì chỉ mang tính ký hiệu, như Thái tuế (đánh dấu vị trí) và Tuế phá là vị trí xung chiếu của Thái tuế. Vấn đề này có thể tham khảo trong bộ sách được vua Càng Long ra lệnh biên soạn và đã được dịch ra tiếng Việt. Đó là bộ sách “Hiệp kỹ biện phương thư”. Tiếc là bản dịch không tốt lắm. Và như thế, các sao trong tử ci nặng tính ký hiệu hơn là sao thật.

Xem số theo hà lạc thì ít bị vấn đề ngày giờ âm lịch hơn, nhưng không phải là không có. Thế mạnh của phương pháp này là cho người ta biết mình nên làm gì. Tử vi nói “sẽ là …. “ trong khi BTHL nói “nên là ….”. Ví dụ có người tuế vận là “Thiên hỏa đồng nhân”, hào 2. Hào này nghĩa là chỉ giao du hạn hẹp trong bà, con anh em nên sẽ gặp khó khăn về sau. Nếu như đương số cố gắng mở rộng quan hệ, dung nạp người ngoài thì rỏ ràng sẽ giảm thiểu những khó khăn sau này. Trong nhiều trường hợp, cần nghiên cứu đại tượng (chính quẻ) để hiểu rỏ vì sao mà đương số nói trên rơi vào thế chỉ giao du với người nhà, từ đó, có thể điều chỉnh ngay trước khi đi vào tuế vận đó, như vậy sẽ tốt hơn nhiều.

Việc lấy tuế vận có một điểm không rỏ ràng là tuế vận đầu tiên (1 tuồi) là tính từ lúc nào? Tính từ ngày sinh hay tính từ mồng một tháng một năm được sinh ra? Theo nguyên tắc khi gieo quẻ, nếu nói “3 tháng nữa việc sẽ thành” thì tức là tính từ lúc gieo quẻ. Nếu cùng nguyên tắc này thì có thể nói là tính từ ngày sinh. Nhưng như vậy thì khác xa với tử vi và các phép bói theo ngày giờ khác, vốn tính theo từng năm âm lịch. Tôi thì thiên về ý tính từ ngày sinh hơn, có vị nào có lý luận chính xác hơn thì xin chỉ giáo, tôi hết sức cảm kích.

Ngoài ra, như khi xem mai hoa hay bốc dịch, thời thần và nguyệt thần rất được coi trọng nhưng xem bát tự thì chỉ xét thời thần và nguyệt thần trong chính và biến quẻ mà thôi, còn các đại, tiểu vận thì sao? Tương quan giữa nạp âm và ngũ hành của các quẻ trong đại vận và niên vận cũng vậy, có xét không? Và mạnh đến mức nào? Theo kinh nghiệm cá nhân tôi thì ảnh hưởng này là rất lớn. Lý do sẽ bàn trong mục 3, khi nói về bói dịch.
Vấn đề lớn nhất của các phép bói toán liên quang đến kinh dịch là phải biết Dịch lý và lý số. Nhiều nhà nghiên cứu còn đòi thay đổi vị trí các đơn quái trên vòng tròn bát quái, tôi thấy thật quá bạo phổi. Nếu họ hiểu rõ lý số thì chắc sẽ không nghĩ như vậy. Tóm lại, đã có người từng nói: “Nghiên cứu Dịch mà hiểu được dịch lý thì như thần tiên, nghiên cứu mà không hiểu thì có khi thành quỉ. Xưa nay tiên thì ít mà quỉ thì nhiều vô kể”.
Vì xét hết các môn thì quá dài dòng, trong hai mục kế đầy tôi chỉ xét một môn tiêu biểu cho cả nhóm.
2. Tướng số:
Có thể thấy tướng số là phương pháp dễ thuuyết phục người ta nhất. Nó dựa đúng vào những biểu hiện của cơ thể người mà luận đoán. Tuy nhiên, đi sâu vào thì thấy không phải là ngon ăn vì rằng như nhiều người nói hình thể học như mũi, mắt, tai … chỉ là phần rất sơ đẳng và kém chính xác.

Để cho dễ vận dụng, có sách đã có lời nhắc, chủ yếu cố gắng chọn những cái nhận xét tương đối dễ và giống đời thường (tục nhản) như sau:
- Cơ bản nhất là xương cốt. Khung xương mà cân đối, đẹp và mạnh mẽ là nền tản tốt. Nếu thấy mấy từ “cân đối, đẹp và mạnh mẽ” mơ hồ quá thì cứ xem bộ răng. Răng tốt hay xấu thì dễ biết rồi.
- Kế là huyết mạch mà biểu hiện là da thịt. Da thịt hồng hào, mịn màng thì tốt. Cũng tương tư, nếu thấy khó nhận biết quá thì hảy tập chú vào tóc, râu, lông mài. Nếu thấy mượt mà, nhiều thì từ khá trở lên. (Ngày nay kỹ thuật làm đẹp cao quá nên đoạn này cũng chưa chắc dùng được).
- Trên cùng là khí, là thần: Đoạn này thì vô cùng khó với những người mới học. Chỉ còn trông cậy vào tiếng nói và cách hít thở, dáng đi. Việc xem cái thần toát ra từ một người thật sự không dễ nếu chính bản thân người xem không phải là người có tinh thần mạnh mẽ và thanh tịnh.
Cuối cùng mới đến các chi tiết trên mặt mũi … Các bộ vị này có đẹp mà các nền tản kia yếu kém thì cũng không phát huy được. Thế mà có nhiều người cứ mong sửa mũi, cắt mắt để số tốt hơn !?

Và điều còn khó chịu hơn nữa là khí huyết, thần thái cũng có thể thay đổi theo thời gian làm cho việc dự đoán 5 hay 10 năm tời trở thành khó khăn.

Có một kỹ thuật có thể giúp ích rất nhiều cho việc xem tướng, đó là “Ngôn ngữ cơ thể” của khoa học hiện đại. Môn này chủ yếu quang sát cử chỉ của người đối thoại mà đoán thái độ của họ đối với chuyện mình đang nói. Một cuốn sách về đề tài này đã được dịch ra tiếng Việt. Đó là quyển “Ngôn ngữ của cử chỉ”. Vì là sách của phương tây nên rỏ ràng dễ hiểu, dễ học, rất có ít mà là cầu nối để người ta tiếp cận học được cách quang sát thần thái theo kiểu phương đông.

3. Bói dịch:
Phương tây ngày nay có nhiều ngành khoa học dính dáng đến ngẫu nhiên. Người Nga có cả một môn khoa học nghiên cứu về sự ngẫu nhiên. Trong ngành nhiệt động lực học, khí tượng học, người ta phát biểu rất nhiều định luật về ngẫu nhiên, ví dụ như khi mà mọi cái hỗn độn, muốn xếp nó lại theo một qui luật nào đó thì cần phải tốn năng lượng. Từ trật tự mà chuyển sang hổn độn thì sẽ giải phóng năng lượng. Cả trái đất là hệ năng lượng, mọi thứ ảnh hưởng liên động, chỉ cần một con bướm trong rừng vỗ cánh mạnh hơn một tí thì thay gì có gió nhẹ ở Thái bình dương, ta sẽ có một trận bão. Tóm lại, khi nghiên cứu ngẫu nhiên đến mức nào đó, người ta đi dần đến nhận định là không có gì là ngẫu nhiên !?
Chính vì có sự liên lạc như vậy mà có những phép bói như bốc dịch, mai hoa … chủ yếu dựa vào ngẫu họp.
Nói đến Kinh Dịch thì phải rất thận trọng. Khổng tử ngày xưa đọc đến kết lại sách 3 lần mà vẫn còn do dự (“Đời sau khen ta cũng vì bộ sách này, mà chê ta cũng vì bộ sách này”). Thế nên ý nghĩa cao thâm của Dịch thật không dám bàn, ở đây chỉ bàn chuyện dùng dịch để bói thôi:
- Trong quyển “Trung Quốc triết học” của Lưu Úy Hoa có một thống kê rất hay. Đó là thống kê các hào từ trong 64 quẻ dịch. Trong đó Đại cát, Nguyên cát có 21 hào tức chiếm 4%. Hanh, Lợi có 103 hào tức 19%, Cát Tường có 125 hào, chiếm 24%, Vô cữu, vô hối có 124 hào chiếm 24%, Hối, Lận, Cữu có 65 hào chiếm 12%, Hung Lệ có 56 và 27 hào chiếm 11 và 6%. Tóm lại, từ trung bình đến rất tốt chiếm đến 71%, còn xấu và rất xấu chỉ có 29%. Như vậy phải chăng là bói dịch thì sẽ gặp tốt nhiều hơn xấu? Như trên đã nói, đại tượng rất quan trọng, nó chỉ cho chúng ta đang ở thời nào, hào từ chỉ chúng ta đang ở vị nào. Tùy theo đó mà hành động thì có tới trên 71% là từ vô cữu (không có lỗi) và vô hối (không hối hận) trở lên. Chỉ có điều người xem phải rất tinh thông dịch lý chứ không thì xác suất sai lầm là rất lớn. Bản thân việc hành động theo đúng lời khuyên của Dịch cũng chẳng dễ gì.
- Phương pháp xem dựa vào ngũ hành sinh khắc cũng có cái hay là dễ dàng, chỉ xếp các đơn quái ra, kết họp với nhật, nguyệt thần xem dụng hay thể thắng thế là xong. Khuyết điểm của nó là cho ra kết quả rỏ ràng dứt khoát quá mà trong đời thiếu gì chuyện như “tái ông thất mả”, hay dỡ đi kèm, làm sao mà dứt khoát tốt hay xấu được. Vậy nên việc chỉ dựa vào ngũ hành xem ra rất không chắc chắn và không hết cái lẽ uyên thâm của dịch.
- Đã vậy, nhiều người vận dụng thuyết ngũ hành rất không đúng. Ví dụ: ông xếp nọ mạng thủy, khi tuyển nhân viên thì cứ ưu tiên chọn người mạng kim. Trong nhà thì vợ cứ vác hết ti vi, đầu máy … đặt ngay giữa phòng khách vì cho rằng những vật này thuộc hành kim, mà kim thì sinh thủy. Thật ra thì âm dương vận hành, ngũ hành phải cân bằng hài hòa mới tốt, ngay như kim với kim thì va chạm không tránh khỏi trầy sướt, thủy với thủy thì là Khảm, tất hung, hỏa với hỏa thì là lửa cháy ngất trời… không có gì là hay (quẻ Ly cũng không hẳn là tốt vì sáng tới cùng là tới lúc tối dần).
Còn chuyện cho rằng tivi và máy nghe nhạc là hành kim thì càng sai. Những vật này phát ra âm thanh, cố nhiên là thuộc quẻ chấn, tất là hành mộc. Chỉ khi nào bị ti vi hay cái loa bằng sắt rơi trúng đầu thì đó mới là hành kim.
- Có nhiều thầy thường bắt thân chủ rửa tay, rửa mặt, thắp hương trước khi gieo quẻ. Thật sự thì cũng không cần thiết lắm, cái chính là gieo quẻ cho người hay cho mình cũng vậy, phải để tinh thần tỉnh tại, tập trung cho nguồn năng lượng nội tại liên thông với bên ngoài thì gieo quẻ sẽ sát và dễ đoán hớn. Nhiều người tâm thần rối loạn, gieo một quẻ mà đến 3, 4 hào động thì thật khó cho việc luận giải.
- Việc an thần sát (Câu trần, Châu tướt, Thanh long … ) và an lục thân (Huynh đệ, Thê tài, ….) hoặc tìm phi thần, phục thần … có ích trong nhiều trường họp nhưng không phải lúc nào cũng cần. Chú ý một lúc quá nhiều yếu tố nhiều khi làm rối trí. Tuy vậy, thế hào và không vong thì phải xét, sách có câu “Thế hào vượng tướng tối vi cường”.
Trên đây là mấy ý kiến thô thiển, xin các vị huynh trưởng chỉ giáo nhiều. Vì tôi ít khi ghé thăm diễn đàn, có gì chỉ dạy, xin cứ mail thẳng cho tôi nếu điều đó không vi phạm nội qui của diễn đàng.